Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất

Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất

Gợi ý

1. Nhan đề:
“Thuật hoài” (thuật: kể lại, bày tỏ; hoài: nỗi lòng) được hiểu là sự thổ lộ khát khao, mong muốn, bày tỏ hoài bão lớn lao và quan điểm riêng của tác giả – một dũng tướng tuổi trẻ tài cao. (Phạm Ngũ Lão sáng tác bài thơ trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần II giai đoạn 1284-1285, nhà thơ khoảng 30 tuổi)

2. Câu đề: Vẻ đẹp và khí thế con người.
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” (phiên âm)
“Múa giáo non sông trải mấy thu” (dịch nghĩa)
– Đọc lên hai từ “hoành sóc” (hiểu theo nghĩa “cầm ngang ngọn giáo”, từ “múa giáo” được người dịch sử dụng để phù hợp với luật thơ, vốn không diễn đạt đúng ý của tác giả), hình dung trước mắt người đọc là hình ảnh người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo đứng giữa đất trời trong một tư thế sẵn sàng, chủ động, với khí thế hào hùng và kiên cường. Lòng yêu nước, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của con người đương thời như một lời đe dọa, cảnh báo những nước láng giềng đang âm mưu xâm lược Đại Việt.
– “Tượng đài” người tráng sĩ dưới ngòi bút của danh tướng họ Phạm còn đẹp và đầy khí thế hơn khi được đem so sánh với đất trời, vũ trụ. Tác giả đã lấy không gian bao la đo lòng dũng cảm, dùng thời gian vô tận thử ý chí. Con người được đặt giữa giang sơn non nước mênh mông mà không hề trở nên nhỏ bé. Bởi “kháp kỉ thu” không chỉ được hiểu là nhiều mùa thu, nhiều năm đã qua mà là thời gian trải suốt một đời người, một thế hệ con dân yêu nước, dùng xương máu, lòng hi sinh của mình đắp lên bờ cõi nước nhà.
=> Trong tình hình đất nước luôn bị dòm ngó bởi quân xâm lược, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh gay go với quân Mông-Nguyên, người tráng sĩ nói riêng, nhân dân Đại Việt nói chung đều ý thức được trách nhiệm bảo vệ đất nước của bản thân, tự đứng lên giành lại non nước. Đó là khí thế anh dũng, quả cảm, oai phong lẫm liệt, đáng ngưỡng mộ.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

3. Câu thực: Hình ảnh quân đội nhà Trần.
“Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” (Phiên âm)
“Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” (Dịch nghĩa)
– Người xưa chia quân đội làm ba: tiền-trung-hậu. Ba quân đội của nhà Trần đã hai lần đánh thắng quân Mông-Nguyên (tính đến thời điểm bài thơ ra đời) lấy ít địch nhiều, lưu lại những chiến công hiển hách trên trang sử đất nước. Trước những chiến thắng ấy, Phạm Ngũ Lão đã ca ngợi và ví von sức mạnh của quân Trần bằng hai chữ “tì hổ”. Tác giả tái hiện bằng ngôn từ cảnh đoàn quân ra trận dũng mãnh, bất chấp hiểm nguy, xông xáo như chúa sơn lâm, làm chủ rừng xanh – con người Đại Việt tự làm chủ Đại Việt. Cách so sánh kết hợp nói quá của Phạm Ngũ Lão đã trở thành điển cố, điển tích cho thi nhân đời sau, trong “Bạch Đằng Giang phú”, Trương Hán Siêu viết “Thuyền bè muôn đội/ Tinh kỳ phấp phới/ Tì hổ ba quân, giáo gươm sáng chói”. Đó như một minh chứng cho tài năng vẹn toàn của Phạm Ngũ Lão cũng như sức mạnh của quân đội dân tộc.
– Tiếp tục sử dụng biện pháp nói quá cho vế sau “khí thôn Ngưu”, nhà thơ đã bộc lộ cái tài sử dụng ngôn từ cô đọng, hàm súc, giàu ý nghĩa. “Khí thôn Ngưu” có hai cách hiểu. Một là quân đội nhà Trần hùng mạnh, khí thế đến mức át cả ngôi sao Ngưu trên bầu trời. Hai là sức mạnh của “tam quân” khi ra trận hiên ngang, mạnh mẽ như nuốt trôi trâu. Dù hiểu theo nghĩa nào, người đọc vẫn hình dung được tầm vóc, vẻ phi thường của tráng sĩ đời Trần. Cách miêu tả của tác giả lại một lần nữa là tấm gương sáng để các nhà thơ thế hệ sau học tập. Người đọc tiếp tục bắt gặp “hào khí Đông A” trong thơ của Hồ Chí Minh “Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu/ Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”

Xem thêm:  Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo
Loading...

4. Câu luận: Quan niệm về chí làm trai.
“Nam nhi vị liễu công danh trái” (Phiên âm)
“Công danh nam tử còn vương nợ” (Dịch thơ)
– Sinh ra trong thời kỳ lịch sử lừng lẫy chiến công và ánh hào quang của quân đội nhà Trần, Phạm Ngũ Lão tự ý thức được bổn phận và trách nghiệm của bản thân. Ông quan niệm: thân là nam nhi, phải lấy công danh làm trọng. Tác giả coi công danh là món nợ với non nước nên mong muốn cả đời được cống hiến cho vua, cho đất nước, lập nhiều công trạng để lại tiếng thơm muôn đời ca tụng. Hoài bão, khát khao của viên tướng trẻ là chính đáng đối với thân phận đấng nam nhi đại trượng phu, lại càng chính đáng hơn trong thời kỳ tổ quốc luôn bị đe dọa nơi biên cương. Quan niệm của ông không chỉ đại diện cho ý chí của người đàn ông trong thời kỳ ấy mà còn là bài học cho những “nam tử” đời sau. Nguyễn Công Trứ đã viết trong “Chí làm trai”: “Làm trai đứng trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.” hay “Chí làm trai nam bắc đông tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bề.”

5. Câu kết: Nỗi thẹn tô đậm vẻ đẹp nhân cách Phạm Ngũ Lão.
“Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Phiên âm)
“Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” (Dịch nghĩa)
– Vũ hầu trong lịch sử Trung Quốc là Gia Cát Lượng, người có công giúp Lưu Bị khôi phục nhà Hán. Tiếng tăm về những công trạng hiển hách, trí thông minh, tài mưu lược của Gia Cát Lượng được bạn bè láng giềng vô cùng thán phục, làm tấm gương cho người đời, trong đó có Phạm Ngũ Lão. Cả đời Phạm Ngũ Lão cật lực vì dân, vì nước, nhằm đạt được ước mơ, hoài bão đã đặt ra từ trước, ấy vậy mà trước tiếng thơm của Vũ hầu, lòng lại dấy lên nỗi “thẹn”? Khi ông sống, đã luôn được vua trọng dụng, dân chúng kính trọng. Khi ông mất, vua Trần Nhân Tông thậm chí ra lệnh nghỉ chầu năm ngày để tưởng nhớ. Lịch sử Việt Nam đến bây giờ vẫn luôn khắc ghi công lao của ông. Vậy cũng đủ để cho người đọc hiểu, Phạm Ngũ Lão đã cố gắng và nỗ lực nhường nào cốt hoàn thành cái chí làm trai theo quan niệm của mình. Còn gì khiến lòng ông phải thẹn, phải trăn trở? Đó chính là tài mưu lược xuất chúng, vô cùng khôn khéo của Vũ Hầu đã khiến Phạm Ngũ Lão tự xấu hổ với lòng. Nỗi thẹn này đã tô điểm thêm cho nhân cách của Phạm Ngũ Lão, ca ngợi những phẩm chất đáng ngưỡng mộ ở danh tướng này: không chỉ có ý chí dám mơ, dám hoài bão lớn lao, dám nỗ lực thực hiện mà còn sự khiêm nhường, ý thức phấn đấu. Chỉ một câu kết bài thơ “Tỏ lòng” đã đặt ra một bài học đạo đức cao cả cho con người mọi thời đại.

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao
Loading...