Phân tích Đọc tiểu thanh kí của Nguyễn Du hay nhất

Phân tích Đọc tiểu thanh kí của Nguyễn Du hay nhất

Gợi ý

1. Cuộc đời nàng Tiểu Thanh là nguồn cảm hứng sáng tác của Nguyễn Du:
– Tương truyền Phùng Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc sống khoảng đầu thời Minh, nhiều ý kiến cho rằng nàng là người Dương Châu, con nhà gia thế, tên chữ là Phùng Huyền Huyền. Vốn thông minh nên từ nhỏ nàng đã thông hiểu các môn nghệ thuật cầm kì thi hoạ, lại có phong tư lộng lẫy hơn người. Năm 16 tuổi, nàng được gả làm vợ lẽ cho Phùng Sinh, một công tử nhà gia thế. Vợ cả tính hay ghen lại cay độc, bắt nàng ra sống riêng trên Cô Sơn, gần Tây Hồ. Vì đau buồn, nàng sinh bệnh rồi qua đời khi mới tròn mười tám xuân xanh. Nhưng đau khổ muộn phiền được gửi gắm vào thơ nhưng phần lớn bị vợ cả đem đốt hết, may mắn còn một số bài sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt là “Phần dư tập”.

– Thương xót, đồng cảm với số phận của người con gái tài tình mà bạc mệnh, Nguyễn Du viết ra bài thơ này. Những người phụ nữ có tài có sắc nhưng đường đời truân chuyên bất hạnh cũng là cảm hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du.

2. Hai câu đề: Con người trong vòng quay số phận.
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.” (Phiên âm)
“Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.” (Dịch thơ)
– Nguyễn Du thở dài xót xa trước sự đổi thay của vườn hoa bên Hồ Tây, nơi ở của nàng Tiểu Thanh khi còn sống: xưa thì đẹp đẽ, mà nay dang dở. Chỉ một từ “tẫn” đã đủ hô biến thắng cảnh thành tro bụi hoang tàn trong cái nháy mắt của thời gian, khiến “có” thành “không”. Trong vòng xoáy dâu bể biến thiên vô lường ấy, người con gái vô tình bị cuốn vào là nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn.  Nghẹn ngào chua xót, Nguyễn Du cầm tập thơ trên tay, tựa người bên song cửa sổ, ngậm ngùi khóc người con gái đáng thương ấy. “Độc” và “nhất” cùng chỉ: một. Nhưng trong khi “nhất” là từ chỉ lượng thì “độc” còn thể hiện tâm thế nhà thơ. “Độc điếu song tiền nhất chỉ thư” còn được hiểu là: một mình ta khóc thương nàng. “Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh?” (Thiên hạ ai kẻ thương người bạc mệnh?), chỉ có một Tố Như với lòng nhân hậu, tình thương người, đặc biệt là những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, mới rưng rưng khóc cho kiếp người xa lạ sống cách nhau đến hàng trăm năm. Những từ “tẫn”, “độc”, “nhất” đã hình thành sợi dây vô hình gắn kết hai tâm hồn của Nguyễn Du và Tiểu Thanh, để nhà thơ thấu hiểu, đồng cảm với nàng. Lòng nhân đạo của thi nhân đã vượt ra ngoài biên giới của thời gian trải dài hàng trăm năm và không gian bao la.
– Hai câu thơ vẽ nên một cuộc chiến khốc liệt – cuộc chiến của đời người đổi thay khôn lường. Một bên là tạo hóa trêu ngươi: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư”, bên kia là một tập thơ bị đốt còn sót lại và lẻ loi một người khóc viếng. Vận mệnh con người trong sự vần xoay của đất trời mới thật mong manh, nhỏ bé. Sự mất cân bằng này càng lấy đi nước mắt của thi nhân, những giọt nước mắt đau thương, bất lực cũng đã nhỏ cho Thúy Kiều, Đạm Tiên (trong “Truyện Kiều”) hay cho người ca nữ đất La Thành (“Điếu La Thành ca giả”).

Xem thêm:  Soạn văn bài: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

3. Hai câu thực: Hạnh phúc đời người kị hai chữ “tài hoa”
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư” (Phiên âm)
“Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương.” (Dịch thơ)
– “Son phấn” và “văn chương” ẩn dụ cho hai nét đẹp tiêu biểu của tuổi trẻ: nhan sắc và tài năng. Ở Tiểu Thanh tồn tại cả hai phẩm chất này. Nhưng “Trăm năm trong cõi người ta, chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau”, Tiểu Thanh phải chịu oan ức những hai lần: có sắc đẹp mà không được nâng niu, giàu tài năng mà chẳng được quý trọng. “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, nhưng ngay cả kết tinh tinh túy từ tài năng, tâm hồn đẹp của nàng là thơ ca cũng bị người vợ cả đem đốt bỏ. Từ đó, có hai cách hiểu: Son phấn có thần ắt phải xót xa vì những điều sau khi chết, văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở; hoặc son phấn như có hồn, sau khi chết vẫn khiến người ta thương nhớ, văn chương có mệnh gì lại để người ta bận lòng đến những bài thơ bị đốt? Dù hiểu theo nghĩa nào, điều rõ nhất vẫn là nghịch cảnh chua xót với người tài hoa mà bạc mệnh. Như nàng ca nhi Đạm Tiên trong “Truyện Kiều” vốn “Nổi danh tài sắc một thì/ Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh” đến khi chết lại “không kẻ đoái, người hoài” thật đáng thương! Sao xã hội phong kiến lại ganh ghét, đối xử bất công với người tài?

Xem thêm:  Phân tích bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ Tố Hữu
Loading...

4. Hai câu luận: Oan nghiệt muôn đời trùm lên cuộc đời những người tài hoa.
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn, (Phiên âm)
Phong vận kì oan ngã tự cư.”
“Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, (Dịch thơ)
Cái án phong lưu khách tự mang.”
– Nguyễn Du nêu ra cái hiện thực xót xa: nỗi oan, nỗi hận tài hoa bị vùi dập bao trùm lên một nhóm người trong xã hội: giai nhân, tài tử mà Tiểu Thanh đại diện cho. Trong khi đó, người vợ cả trong gia đình mà nàng được gả vào đại diện cho chế độ phong kiến ghen ghét, đố kị, chà đạp lên quyền sống, quyền được thừa hưởng nhan sắc, tài năng thiên bẩm của con người. “Trủng trung ưng tự hối phù sinh” (Dưới mồ, chắc cũng hối hận cho kiếp phù sinh) nhưng chẳng lẽ hối vì cái đẹp trời phú cả vẻ ngoài lẫn tâm hồn? Câu hỏi này muôn đời “cổ kim” không có lời giải đáp. Bản thân Nguyễn Du cũng từng phải chịu oan. Mùa đông năm Bính Thìn (1796), ông vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ “My trung mạn hứng” (Cảm hứng trong tù). Nguyễn Du đã “xã hội hóa” nỗi oan của bản thân, của Tiểu Thanh thành nỗi khổ chung của những người có cùng phẩm chất tốt đẹp bị vùi dập bởi xã hội phong kiến thối rữa. Một lần nữa, phép đối trong thi pháp thơ Đường bày ra hai sự không tương xứng giữa hai lực lượng: “thiên” và “ngã” (trời và người). Một lần nữa, con người lại bị làm tổn thương bởi những thành kiến cổ hủ mà ông trời định sẵn cho những tài hoa. Nhà thơ tự nhận mình là kẻ cùng hội, cùng thuyền với lực lượng yếu ớt, bé nhỏ của con người. Tự cho mình là người tài không để phô trương, ngạo nghễ mà Nguyễn Du đang khóc cho chính bản thân mình cũng chịu “án phong lưu”. Nó vừa là vấn đề chung của xã hội “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi” lại vừa là nỗi uất hận nghẹn ngào của từng cá thể “Cái án phong lưu khách tự mang”. Lòng thương nhân đạo của thi nhân đạt tới cao trào.

5. Hai câu kết: Tố Như khóc cho mình và cho người.
“Bất tri tam bách dư niên hậu, (Phiên âm)
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
“Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, (Dịch thơ)
Người đời ai khóc Tố Như chăng?”
– Hết khóc người, nhà thơ lại quay về thương xót chính mình. Tiểu Thanh xấu số sống cách thời nhà thơ họ Nguyễn đến ba trăm năm dù gì cũng được hưởng hạnh phúc nhỏ nhoi là có người thương tiếc mình sau khi chết. Dù sự xót xa, đồng cảm, tri âm đấy đến từ cõi lòng của một Nguyễn Du nhỏ bé cũng đủ đã an ủi phần nào lòng căm phẫn, uất hận của Tiểu Thanh nơi chín suối. Nhưng liệu nhà thơ ba trăm năm về sau, có được hưởng cái hạnh phúc, may mắn như nàng? Tên “Tố Như” nghe mới thật gần gũi, thân thương, lại đầy xót xa. Liệu sau này còn ai tưởng niệm, giao hòa tâm hồn để đồng cảm với Tố Như? Một lần nữa, nhà thơ lại trải rộng nỗi lòng của cá nhân lên toàn xã hội. Giọng thơ băn khoăn, trăn trở này là vì lo lắng liệu xã hội mai này có trân trọng, gìn giữ, nâng niu sắc đẹp, tài năng, để người tài được hưởng hạnh phúc đáng có. Nỗi lo này ẩn hiện trong “Truyện Kiều”, “Điếu la thành ca giả”, “Long thành cầm giả ca”,.. nhưng đến “Đọc Tiểu Thanh kí” thì bộc lộ rõ ràng. Có thể sự “Tưởng thị nhân gian vô thức thú” (Chắc nghĩ trên đời không ai hiểu được mình) của Nguyễn Du tuy có phần bi quan, nhưng đó là lời tự hỏi, là tiếng lòng của tác giả trước một vấn đề bức xúc trong xã hội. Bấy giờ, tư tưởng nhân đạo trong bài thơ được đẩy đến cực điểm.
– Nguyễn Du chưa đến hai trăm năm đã được người đời sau tưởng nhớ, tôn vinh là đại thi hào dân tộc, là tấm gương, cảm hứng sáng tác cho thi nhân thế hệ con cháu:

Xem thêm:  Phân tích bài “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến

“Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương:
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng
Nhân tình, nhắm mắt chưa xong
Biết ai hậu thế, khóc cùng Tố Như?” (Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu)

“Đời nay đẹp gấp trăm lần thuở trước
Giở trang Kiều còn rung động ý thơ.
Thơ Người mãi sống cùng đất nước
Dù mai sau dù có bao giờ” (Thăm mộ cụ Nguyễn Du của Hoàng Trung Thông)

“Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều”” (Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính)

6. Tổng kết nghệ thuật:
– Ẩn dụ; phép đối song hành; câu thơ giàu âm điệu, thể hiện cảm xúc, tâm trạng, hồn thơ.

Loading...