Phân tích Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu hay nhất

Phân tích Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu hay nhất

Gợi ý

1. Địa danh lịch sử sông Bạch Đằng:
Dòng sông Bạch Đằng hay còn gọi là Bạch Đằng Giang thuộc tỉnh Quảng Ninh, thuộc hệ thống sông Thái Bình. Năm 938, Ngô Quyền cho dựng bãi cọc ngầm dưới sông để đánh quân Nam Hán, kháng chiến thắng lợi. Năm 1288, cũng với kế sách dựng cọc ngầm, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng đại tướng Trần Hưng Đạo lãnh đạo quân đội Đại Việt chiến thắng quân Mông Nguyên. Bạch Đằng Giang trở thành địa danh lịch sử nổi tiếng, minh chứng cho chiến công hiển hách của cha ông, con sông là đề tài bất tận cho thơ ca, nhạc họa. Rất nhiều thi sĩ đã sáng tác về Bạch Đằng để bày tỏ tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ca ngợi các trận thủy chiến hùng tráng năm nào. Nguyễn Sưởng viết “Bạch Đằng giang”, Nguyễn Trãi viết “Bạch Đằng hải khẩu”, Trương Hán Siêu viết “Phú sông Bạch Đằng” – kiệt tác văn học nổi tiếng nhất.

2. Khái quát về tác giả, tác phẩm và hình tượng nhân vật khách:
* Tác giả:
Trương Hán Siêu (? – 1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Am, huyện Yên Ninh (Ninh Bình ngày nay) là môn khách của Trần Hưng Đạo, từng giữ nhiều chức tước quan trọng, sau khi mất được thờ trong Văn Miếu. Tính tình ông cương trực, có học vấn uyên thâm, được vua tin, dân kính. Tác phẩm ông để lại không nhiều, nổi bật là “Phú Sông Bạch Đằng”
* Tác phẩm: ra đời khoảng 50 sau chiến thắng Mông Nguyên, được viết theo thể phú – thể văn có vần, xen lẫn văn vần và văn xuôi. Bài phú này được chia làm 4 phần.
+ Phần 1: Từ đầu đến “luống còn lưu”mở
+ Phần 2: Tiếp đến “quét sạch Nam Bang bốn cõi”giải thích
+ Phần 3: Tiếp đến “chừ lệ chan”bình luận
+ Phần 4: Đoạn còn lại – kết
* Hình tượng nhân vật khách: là hóa thân của tác giả, có tráng chí bốn phương, học thức uyên thâm, yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, mang trong mình lòng tự hào dân tộc sâu sắc. Nhân vật khách đảm bảo tính khách quan cho tác phẩm, đóng vai trò thể hiện cảm xúc và dẫn dắt bài phú.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)
Loading...

3. Phân tích chi tiết hình tượng nhân vật khách: 
a. Đoạn 1:
* Lời giới thiệu:
“Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi
Lướt bể chơi trăng mải miết”
Nhân vật khách là một bậc trí giả có tráng chí bốn phương, tâm hồn khoáng đạt, thích ngao du bốn bể.
* Thú tiêu dao của nhân vật khách:
” Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt.
Nơi có người đi đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
Bèn giữa dòng chừ buông chèo
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.”
Qua biện pháp liệt kê, những địa danh thiên nhiên nổi tiếng của Trung Quốc hiện lên: Sông Nguyên, sông Tương, đầm Vân Mộng,… Nhân vật khách đã “ghé thăm” những thắng cảnh này trong tưởng tượng, qua những “chuyến viễn du” trên sách vở. Điều này chứng tỏ vốn hiểu biết phong phú của tác giả và say đắm thưởng ngoạn, tìm hiểu thiên nhiên. Ông làm theo Tử Trường – Tư Mã Thiên – sử gia nổi tiếng của Trung Quốc, ngao du khắp nơi để hòa mình vào thiên nhiên quê hương, nghiên cứu lịch sử, trau dồi học thức.
* Nhân vật khách tìm đến sông Bạch Đằng:
“Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều.”
Không giống với Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm thiên nhiên để bày tỏ đạo lý sống nhàn như trong “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (“Nhàn”) , cũng không giống với Cao Bá Quát đi ngao du đây đó để bộc lộ tâm trạng chua xót, bất đắc trí như trong “Bãi cát,bãi cát dài/ Mỗi bước lại như lùi/ Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ/ Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi” (“Sa hành đoản ca”), Trương Hán Siêu tìm đến thắng cảnh quê hương với tình yêu thiên nhiên đất nước, niềm tự hào dân tộc, mong muốn tìm hiểu về những chiến tích hào hùng năm nào.
Những địa danh có thực: “cửa Đại Than”, “bến Đông Triều” hiện ra trước mắt nhân vật trữ tình. Sông Bạch Đằng – di tích lịch sử nổi tiếng mở ra trong hiện thực.
* Tâm trạng nhân vật khách khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của sông Bạch Đằng:
Trong đoạn này, Trương Hán Siêu miêu tả hai con sông Bạch Đằng với hai nét đẹp đối lập. Một Bạch Đằng trong hiện tại:
“Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu”
Đứng trước dòng sông huyền thoại đẹp hùng tráng, nên thơ qua cách nói phóng đại, tâm trạng nhân vật khách đầy vui tươi, hứng khởi và tự hào vì quê hương mình có cảnh đẹp như mộng. Các từ láy “bát ngát”, “thướt tha” gợi lên một Bạch Đằng rộng mênh mông với sóng nước nhịp nhàng lay động lòng người, một Bạch Đằng xanh biếc màu nước, màu trời trong tháng ba của mùa thu. Trước thắng cảnh, trong lòng thi sĩ lại xuất hiện cảm hứng hoài cổ – cảm hứng xuất hiện trong sáng tác của nhà thơ đã từng đến sông Bạch Đằng. Nguyễn Trãi từng than “Việc trước quay đầu ôi đã vắng/ Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng”.
“Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.”
Trương Hán Siêu hồi tưởng về Bạch Đằng trong quá khứ. Các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc đã để lại hậu quả kinh khủng: bao người đổ máu, chịu cái chết đau đớn, oan nghiệt. Dưới dòng sâu kia là xương máu, linh hồn của bao tướng sĩ tử trận. Nhân vật khách nghĩ về cái hiện thực tàn khốc ấy mà đau xót khôn cùng, giọng điệu bài phú đến đây cũng vì thế mà trầm xuống u buồn. Những từ láy “san sát”, “đìu hiu” còn tô đậm sức mạnh bào mòn vạn vật của thời gian. Bạch Đằng Giang không chỉ mất đi vẻ kiêu hùng bởi chiến tranh tàn phá mà còn bởi sự ăn mòn khủng khiếp của thời gian. Chính vì thế, bậc trí giả họ Trương càng buồn bã, nuối tiếc hơn.
b. Đoạn 4: Lời bình của nhân vật khách:
“Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thăng bình.
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”
Sau khi nghe lời kể của các vị bô lão về hai cuộc chiến chống quân Nam Hán và quân Mông Nguyên, tác giả cất lời ca ngợi công lao của hai vị minh quân Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông và đại tướng Trần Hưng Đạo, khẳng định rằng chiến thắng này phần lớn dựa vào tài trí và đức độ của các anh hùng đất Việt. Quan điểm này khác với quan điểm của Nguyễn Sưởng trong “Bạch Đằng giang”: “Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết/ Nửa do sông núi nửa do người”. Bên cạnh đó, Trương Hán Siêu còn tâm đắc lối trị dân, trị nước của vua Trần, đó là dùng chữ “đức”. Chữ “đức” thể hiện ở lòng thương dân vì dân mà lãnh đạo kháng chiến thắng lợi, biết đoàn kết sức mạnh toàn dân, khoan thư sức dân. Chữ “đức” này cũng từng xuất hiện trong “Vận nước” của Quốc Tộ: “Vô vi nơi điện các/ Xứ xứ tức đao binh”.

4. Tổng kết nghệ thuật: Giọng điệu thay đổi phù hợp hoàn cảnh, bộc lộ tâm trạng; cách dùng từ láy gợi hình gợi cảm; biện pháp nghệ thuật: liệt kê, phóng đại, đối lập,…

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Loading...